3 chế độ xem cần có trong Google Analytics (1)

3 chế độ xem cần phải thiết lập trong Google Analytics

Bộ lọc (Filter) và Chế độ xem (View) là những thành phần cơ bản nhất của Google Analytics. Việc thiết lập Chế độ xem theo những mục tiêu cụ thể là vô cùng quan trọng trong việc phân tích website (web analytics), từ đó có thể đưa ra những định hướng về SEO, cũng như kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp.

Thông thường, khi tạo mới một thuộc tính trong Google Analytics, chúng ta sẽ có một Chế độ xem mặc định mà Google cung cấp sẵn là Tất cả dữ liệu trang web (All Website Data). Vậy tại sao lại có tới 3 chế độ xem cần phải thiết lập trong Google Analytics? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu ngay sau đây.

I. Giới thiệu nhanh về chế độ xem trong Google Analytics (Google Analytics Views)

Cấu tạo một tài khoản Google Analytics, sẽ được phân làm 4 cấp cơ bản bao gồm:

  1. Tài khoản người dùng Google Analytics (Google Analytics Account User): Chính là account liên kết với Google Account, sử dụng địa chỉ Gmail.
  2. Tài khoản Analytics (Analytics Account): Một người có thể tạo được 100 Analytics Account phục vụ cho những mục đích khác nhau. Ví dụ như tạo cho nhiều khách hàng, tổ chức, công ty khác nhau
  3. Thuộc tính (Property): Mỗi Anaytics Account có thể tạo được 50 thuộc tính khác nhau. Ví dụ bạn tạo Tài khoản Analytics cho công ty A, công ty A có thể có 10 website cần theo dõi, vậy bạn sẽ tạo 10 thuộc tính tương ứng với 10 website đó. Thông thường, mỗi Thuộc tính sẽ là một website, trừ trường hợp bạn muốn theo dõi trên nhiều trang web, như trường hợp muốn áp dụng theo dõi tên miền chéo (cross-domain) trên nhiều domain của cùng một dự án. Hoặc bạn cũng có thể tạo những thuộc tính khác nhau cho ứng dụngtrang web.
  4. Chế độ xem (View): Mỗi Thuộc tính (Property) chúng ta lại có thể tạo tới 25 view để phục vụ cho những mục đích theo dõi, báo cáo cũng như thử nghiệm của mình.

Hãy xem ví dụ sau, bạn có thể dễ dàng nhận thấy 3 cấp độ:

  1. Tài khoản Analytics: Giang Hải Sơn
  2. Thuộc tính: Analyticsecret.com
  3. Chế độ xem: Tất cả dữ liệu trang web

Hãy xem thêm bài viết phân tích về sự khác nhau và duyên nợ của Google Analytics và Google Tag Manager để hiểu thêm về Google Analytics.

II. 3 chế độ xem cần có trong Google Analytics

Trong trường hợp bạn không có nhu cầu gì nhiều khi sử dụng Google Analytics, ví dụ như chỉ xem lượng truy cập (traffics) thôi chẳng hạn, và cũng không cần tạo ra những báo cáo theo nhu cầu, hay những bộ lọc (filter) lượt truy cập theo nguồn chẳng hạn. Thì bạn có thể sử dụng luôn Chế độ xem mặc định mà Google đã cung cấp (All Website Data).

Nhưng trong trường hợp bạn cần phải phân tích, báo cáo về lưu lượng người dùng theo một nhu cầu cụ thể nào đó thì bạn cần tạo ít nhất 3 chế độ xem để có thể thao tác một cách an toàn và chính xác. Mình nói “an toàn” ở đây vì giả sử bạn có tạo một bộ lọc nào đó trong chế độ xem Tất cả dữ liệu trang web (All Website Data), dữ liệu thô của bạn sẽ bị ảnh hưởng. Có khả năng bạn sẽ bị mất đi một số dữ liệu nào đó sau khi chạy qua bộ lọc của bạn.

Theo kinh nghiệm đã được đúc kết từ những chuyên gia hàng đầu về Google Analytics, bản thân mình cũng đã áp dụng và thấy hoàn toàn hợp lý. Đó chính là nên tạo 3 chế độ xem:

  1. All Website Data: Chế độ mặc định Google đã cung cấp. Nên giữ nguyên chế độ xem này để bạn có thể xem được toàn bộ dữ liệu thô (Raw Data) mà Google Analytics đã thu thập được. Dữ liệu của bạn sẽ an toàn và bạn có thể sử dụng bất kỳ lúc nào.
  2. Test View: Đây là nơi bạn có thể thử nghiệm các bộ lọc mới, bạn có thể xem lưu lượng truy cập của mình bị ảnh hưởng như thế nào trước khi thêm những bộ lọc này vào chế độ xem chính. Bằng việc kiểm tra trước bộ lọc, bạn có thể đảm bảo về độ chính xác của dữ liệu theo những nhu cầu nhất định mà bạn đã đặt ra trước khi những dữ liệu này được áp dụng vào báo cáo chính thức.
  3. All Website Data + Filter: Hoặc bạn có thể đặt tên nó là Master View hay một cái tên nào đó phù hợp. Đây sẽ là chế độ xem chính của bạn, những bộ lọc đã được thử nghiệm sẽ được thêm vào đây. Cũng như những báo cáo chính xác nhất sẽ được xây dựng từ chế độ xem này.

Bạn hoàn toàn có thể đặt tên những chế độ xem theo ý thích, nhưng công dụng của những chế độ xem sẽ giống như trên. Ngoài ra bạn có thể tạo ra rất nhiều chế độ xem khác nữa phù hợp với mục đích của bản thân hay khách hàng. Ví dụ ở những công ty lớn sẽ có chế độ xem theo vùng, theo ngôn ngữ, độ tuổi… và được chia sẻ với những nhân sự phụ trách riêng biệt theo các nhóm khách hàng.

III. Cách tạo một chế độ xem mới

Để tạo một chế độ xem mới, bạn hãy đăng nhập vào tài khoản Google Analytics. Đi đến phần Quản trị (1), chọn Tài khoản phù hợp (2), chọn Thuộc tính (3) và nhấn vào nút Tạo chế độ xem (4):

Tạo chế độ xem mới trong Google Analytics

Điền Tên chế độ xem báo cáo và chọn múi giờ phù hợp:

Tạo chế độ xem mới trong Google Analytics

Nhấn nút màu xanh Tạo chế độ xem. Vậy là bạn đã có một chế độ xem mới. Giờ bạn có thể chọn chế độ xem phù hợp từ vùng làm việc của Google Analytics:

Tạo chế độ xem mới trong Google Analytics

IV. Kết luận

Khi tạo mới một thuộc tính trong Google Analytic, bạn sẽ có sẵn một chế độ xem mặc định (All Website Data). Nhưng chế độ xem này chỉ chứa những dữ liệu thô mà Google Analytics thu thập được, và nó có thể sẽ không phù hợp cho những báo cáo chính xác của bạn.

Ngoài ra việc thêm những bộ lọc vào chế độ xem mặc định này cũng sẽ ảnh hưởng đến dữ liệu gốc. Bạn sẽ đối mặt với rủi ro mất dữ liệu, khi chúng được chạy qua bộ lọc.

Vì vậy việc tạo ra ít nhất 3 chế độ xem trong Google Analytics như trên có thể giúp bạn đảm bảo việc lưu trữ dữ liệu, kiểm tra bộ lọc một cách tốt nhất.

Giờ bạn hãy bắt đầu để thêm những bộ lọc như loại bỏ truy cập spam, truy cập ảo để bản báo cáo của bạn thêm chính xác nhé!

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Scroll to Top